Dịch Cân Kinh (Nương theo kinh mạch mà dịch chuyển gân cốt) từ ngàn xưa luôn được xem là thái sơn bắc đẩu trong chốn nội gia khí công. Thế nhưng, người đời nay tập Dịch Cân Kinh đa phần chỉ dừng lại ở việc múa tay vung chân, ấy gọi là luyện "Hình" chứ chưa chạm tới "Khí".
Thức thứ nhất của bộ công pháp này mang tên Vi Đà Hiến Xử Đệ Nhất Thế (Thế Vi Đà dâng chày). Bề ngoài ngỡ như một tư thế chắp tay tĩnh lặng, nhưng ẩn sâu bên trong là sự xoay vần của cả một tiểu vũ trụ, kết nối kinh Thủ Thái Âm Phế và vòng tuần hoàn Tiểu Châu Thiên.
Dưới đây là phần giải mã Nội Công Tâm Pháp của thức thứ nhất, thứ làm nên sức mạnh cải lão hoàn đồng thực sự của Đạt Ma Dịch Cân Kinh.
Kiễng túc thâu âm, tụ Đan Điền,
Mệnh Môn nghịch chuyển, Đốc mạch toàn.
Đại. Chùy phân khí thông Trung Phủ,
Thái Âm cuồn cuộn xuất chỉ đoan.
Thu hồi cựu lộ quy Phong Phủ,
Thần. quang dẫn khí đáo Bách Hội.
Nối cầu Ô Thước thông Nhâm Đốc,
Ngọc dịch quy nguyên, định chân nguyên.
Để phát động được đường kinh Phế, người tập không thể chỉ dùng lực ở tay. Bí quyết nằm ở chỗ "tá lực đả thông" – mượn năng lượng của trời đất và toàn bộ kinh mạch trong cơ thể để tẩy rửa tạng Phế. Quá trình này trải qua 4 giai đoạn sinh tử:
Động tác: Hai chân đứng thẳng, từ từ kiễng gót chân lên.
Tâm pháp: Cái diệu lý của việc nhón gót chính là mở toang huyệt Dũng Tuyền (tỉnh huyệt của kinh Thận) dưới lòng bàn chân. Dũng Tuyền là rễ của sinh mệnh. Mượn nhịp hít vào, dùng ý niệm biến lòng bàn chân thành chiếc phễu hút lấy Địa Khí (Âm khí) từ mặt đất. Luồng khí này men theo mặt trong chân, lội ngược dòng quy tụ về lò bát quái ở bụng dưới – Hạ Đan Điền.
Tâm pháp: Khí tụ tại Đan Điền bấy giờ đã đượm, người tập dùng ý dẫn xuất nó ra phía sau lưng, thâm nhập vào cửa ngõ sinh tử: huyệt Mệnh Môn. Từ đây, nội khí nghịch hành tuôn ngược lên trên dọc theo cột sống (Đốc Mạch). Khí đi qua Chí Dương, rồi hội tụ đầy uy dũng tại Đại Chùy (đốt sống cổ C7) – tổng quản của vạn ngàn kinh Dương. Lúc này, toàn bộ dương khí cơ thể đã được gom về một mối.
Động tác: Hai tay chắp trước ngực, mười đầu ngón tay hướng thẳng lên trời.
Tâm pháp: Khí từ Đại Chùy không đi lên não ngay mà phân làm hai nhánh, vòng ra trước ngực để nhập vào huyệt Trung Phủ (điểm khởi đầu của kinh Phế). Mượn sức tì nén của hai lòng bàn tay, khí theo đường kinh Thủ Thái Âm Phế tuôn trào như thác, tràn qua nếp gấp cánh tay, đổ thẳng ra tận góc móng ngón tay cái (Thiệu Thương). Bao nhiêu tà khí, trọc khí, uất kết của tạng Phế đều theo đường này mà bị tống khứ ra ngoài.
Khí xuất ra tất phải có lối thu về, bằng không vạn khí hao tán, chuốc lấy tẩu hỏa. Đây là bước mang tính quyết định để kết thúc vòng Châu Thiên.
Thu khí: Ý niệm mượn đường cũ, kéo chân khí từ ngón tay rút ngược về Đại Chùy.
Dẫn khí lên đỉnh: Người tập ngửa đầu, vươn cổ, đôi mắt bất thần mở to (trợn mắt). Nhãn quang là cửa sổ của Thần. Mượn Thần để dẫn Khí, khí sẽ vọt qua Phong Phủ, thăng thẳng lên cung nê hoàn tại đỉnh đầu: huyệt Bách Hội.
Nối cầu Ô Thước: Khí ngưng tại Bách Hội, đầu lưỡi lập tức uốn cong chạm vào vòm họng trên. Đây là chiếc cầu nối liền hai mạch Nhâm – Đốc vốn dĩ bị đứt đoạn ở khoang miệng.
Ngọc Dịch Quy Nguyên: Chân khí giáng xuống từ đầu, đi qua mười hai đốt cuống họng (Thập Nhị Trùng Lâu). Lúc này, tân dịch dưới lưỡi ứa ra thứ nước cam lộ ngọt ngào, gọi là Ngọc Dịch. Người tập nuốt nước bọt đánh "ực" một tiếng, dùng lực cơ học ép toàn bộ chân khí đang lơ lửng giáng thẳng xuống đáy Hạ Đan Điền.
Khí quy về rốn, cửa huyệt đóng chặt. Một vòng tuần hoàn viên mãn khép lại.
Vi Đà Hiến Xử Đệ Nhất Thế tưởng chừng tĩnh lặng như mặt hồ, nhưng bên trong sóng cuộn biển gầm. Bằng việc kết nối một đường kinh đơn lẻ (Phế) vào đại tuần hoàn của cơ thể (Tiểu Châu Thiên), người xưa đã tạo ra một cỗ máy luyện đan hoàn hảo: Có Âm trợ Dương, có vay có trả, có phát có thu.
Chỉ cần dụng tâm luyện trọn vẹn một thức này, dẫu thân không động, cũng đủ để khí huyết sục sôi, lục phủ ngũ tạng được gột rửa, lập lại thế cân bằng tự nhiên của sinh mệnh. Đó mới chính là tinh hoa thực sự của Đạo gia Khí Công!

